Nghiên cứu

15:52 15/07/2011

Đức Phật & cây Bồ Đề

(TG&DT) - Ý thức và cảm nhận được mọi sự thay đổi của thân thể, chính là sự khai triển khả năng tỉnh thức thường trực, cũng được hiểu như là Giác. Cái khả năng tỉnh thức thường trực sẵn có mà người lại hay quên, thì đây là một trong những nguyên nhân đầu tiên không thoát ra ngoài được các nhận thấy như thực tự nhiên của sự vật.

Một loại cây thân nhẵn, hoa không hương, có nguồn gốc từ Nepal và Ấn Độ, Tây Nam Trung Hoa, Đông Dương và Việt Nam. Vỏ cây màu xám nhạt, có thể bóc rời từng mảnh lớn, gỗ mềm, thớ mịn đều, nhẹ, dễ chẻ, được dùng trong công nghiệp giấy hay làm tăm xỉa răng… Nhựa cây màu trắng đục, có mùi thơm thường được sử dụng để chế biến nước hoa và trong y học.



Lá cây mang dạng hình thoi, tam giác hay trái tim và có đuôi ở chóp lá. Khi còn non là màu đỏ hồng nhạt, lúc trưởng thành chuyển sang màu xanh lục điểm tía. Hoa nhỏ màu đỏ, thường nở vào tháng hai. Phiến lá mỏng và giòn, có 6-8 đôi gân ; dài 12-18 cm, rộng 7-10 cm. Cuống lá mảnh, dài 5-8 cm. Lá được dùng làm thực phẩm nuôi  thú vật hay gia súc rất tốt, bởi vì lá chứa khoảng 9% chất đạm, 2.7 % chất béo, 68.3 % chất carbohydrates tổng cộng, 15.9 % chất xơ.



Trái tuy không ăn được như những trái cây khác, nhưng nó cũng có nhiều công dụng trong y học. Trái có hình thù giống như quả sung, không cuống, có đường kính khoảng 7-8 mm. Khi còn non màu xanh, khi chín màu đỏ xậm hay tím bầm pha trộn các chấm đỏ trên da. Cây bắt đầu cho trái từ tháng 5 hay tháng 6. Cây sống rất lâu và hiện nay ở Tích Lan còn một cây đã sống trên 2000 năm.



Thành phần ứng dụng của các bộ phận trong cây được dùng khá phổ biến để trị một số bệnh thông thường theo y học cổ truyền Ấn Độ:



Vỏ cây: Chất làm se, hạ nhiệt, tăng sinh lý, kháng khuẩn, bệnh lậu, tiêu chảy, kiết lỵ, bệnh trĩ, chống viêm, phỏng, bệnh ngoài da, ghẻ, nấc cục, nôn mửa.



Lá và chồi cây hay cành non : Tẩy trùng vết thương, bệnh ngoài da thầu.



Nước cốt của lá : Hen suyễn, ho, rối loạn tình dục, tiêu chảy, đái ra máu, đau răng, nhức đầu đông, mắt loạn, các vấn đề về dạ dày, ghẻ.



Nước xắc của lá : Giảm đau cho đau răng.

Trái khô : Bệnh lao, sốt, tê liệt, bệnh trĩ.

Trái tươi : Hen suyễn, nhuận tràng, tiêu hóa.

Hột : Hạ nhiệt, nhuận tràng.

Nhựa : Đau dây thần kinh, các chứng viêm, xuất huyết.

Thành phần hóa học:



Vỏ cây chứa các chất hóa học: Tannins, saponins, flavonoids, steroids, terpenoids, cardiac glycosides, bergapten, bergaptol, lanosterol, β-sitosterol, stigmasterol, lupen-3-one, β-sitosterol-d-glucoside (phytosterolin), vitamin k1, tannin, wax, saponin, β-sitosterol, leucocyanidin-3-0-β-D-glucopyrancoside, leucopelargonidin-3-0-β-D-glucopyranoside, leucopelargonidin-3-0-α-L- rhamnopyranoside, lupeol, ceryl behenate, lupeol acetate, α-amyrin acetate, leucoanthocyanidin và leucoanthocyanin.



Lá chứa các chất hóa học : Campestrol, stigmasterol, isofucosterol, α-amyrin, lupeol, tannic acid, arginine, serine, aspartic acid, glycine, threonine, alanine, proline, tryptophan, tryosine, methionine, valine, isoleucine, leucine, n-nonacosane, n-hentricontanen, hexa-cosanol and n-octacosan.



Trái chứa các chất hóa học : Asgaragine, tyrosine, undecane, tridecane, tetradecane, (e)-β-ocimene, α-thujene, α-pinene, β-pinene, α-terpinene, limonene, dendrolasine, dendrolasine α-ylangene, α-copaene, β-bourbonene, β-caryophyllene, α-trans bergamotene, aromadendrene, α-humulene, alloaromadendrene, germacrene, bicyclogermacrene, γ-cadinene, δ-cadinene,



Hột chứa các chất hóa học : Alanine, threonine, tyrosine.



Nhựa sống chứa các chất hóa học : Religiosin.



Bảng phân khoa học :

Giới :    Plantae

Nghành :    Magnoliophyta

Lớp :    Magnoliopsida

Bộ :    Urticales

Họ :    Moracea

Chi:    Ficus

Loài :    Ficus religiosa


 

Ficus là danh từ Latin dùng để chỉ cho những cây thực vật thuộc họ Moraceae như : Cây sung, cây đa, cây đề.


 

Bảng biến hóa thân từ của ficŭs ở dạng nữ tính trong tiếng Latin



Trường hợp

Số ít

Số nhiều

Chủ cách

ficŭs

ficūs

Hô cách

ficŭs

ficūs

Cách trực bổ

ficŭm

ficūs

Cách sở hữu

ficūs

ficŭŭm

Cách gián bổ

ficūi
hay
ficū

ficĭbŭs

Cách tách ly

ficū

ficĭbŭs


 

Bảng biến hóa thân từ của ficus ở dạng nam tính trong tiếng Latin



Trường hợp

Số ít

Số nhiều

Chủ cách

ficus

ficī

Hô cách

fice

ficī

Cách trực bổ

ficum

ficōs

Cách sở hữu

ficī

ficōrum

Cách gián bổ

ficō

ficīs

Cách tách ly

ficō

ficīs


 

Chữ Religiosa có gốc từ tĩnh từ Religiosus trong tiếng Latin. Religiosus có những nghĩa được biết như sau : Đắn đo, thận trọng, chu đáo, cái nhìn tôn kính đối với Thượng đế, Đáng kính.



Bảng biến hóa thân từ của religious ở 3 dạng khác nhau trong tiếng Latin



Trường hợp

Số ít



Số nhiều




Nam tính

Nữ tính

Trung tính

Nam tính

Nữ tính

Trung tính

Chủ cách

religiosus

religiosa

religiosum

religiosi

religiosae

religiosa

Hô cách

religiose

religiosa

religiosum

religiosi

religiosae

religiosa

Cách trực bổ

religiosum

religiosam

religiosum

religiosos

religiosas

religiosa

Cách sở hữu

religiosi

religiosae

religiosi

religiosorum

religiosarum

religiosorum

Cách gián bổ

religioso

religiosae

religioso

religiosis

religiosis

religiosis

Cách tách ly

religioso

religiosa

religioso

religiosis

religiosis

religiosis



Cây Ficus religiosa được xem là một cây linh thiêng của Ấn giáo. Qua 49 ngày thiền định dưới gốc cây này, mà Thái tử Siddhartha đã ngộ đạo và trở thành một vị Phật lịch sử của nhân loại, được biết cho tới ngày hôm nay.



Qua việc hoàn toàn giác ngộ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và để tưởng nhớ đến cây đã che chở cho Ngài trong những ngày nắng mưa, cho nên người ta mới đặt tên cho nó là cây Bồ đề.



Bồđề là danh từ dịch âm từ chữ bodhi trong tiếng Phạn,viết theo mẫu devanāgarī : बोधि. Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, Bồ đề dùng để chỉ trạng thái cho người tu chứng được bốn cấp Thánh đạo (Phạn ngữ. āryamārga) bằng cách hành trì 37 Bồ đề phần và Tứ diệu đế.



बोधि bodhi có gốc từ chữ bodh và बोधि bodhi có những nghĩa được biết như sau : Khoa học, Thông minh, Sự hiểu biết am tường, Sự tiết lộ, Sự phát hiện, Điều phát hiện, Sự chiếu sáng, Sự soi sáng, Thiên khải, Sự giải thoát khỏi mối phiền não, Sự giác ngộ của một vị Phật.



Bảng biến hóa thân từ của  bodhiḥở dạng nữ tính:



Nữ tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách bodhiḥ bodhī bodhayaḥ
Hô cách bodhe bodhī bodhayaḥ
Cách trực bổ bodhim bodhī bodhīḥ
Cách dụng cụ bodhyā bodhibhyām bodhibhiḥ
Cách gián bổ bodhyai | bodhaye bodhibhyām bodhibhyaḥ
Cách tách ly bodhyāḥ | bodheḥ bodhibhyām bodhibhyaḥ
Cách sở hữu bodhyāḥ | bodheḥ bodhyoḥ bodhīnām
Cách vị trí bodhyām | bodhau bodhyoḥ bodhiṣu

 

बोध्  bodh có gốc từ động từ budh_1 ở thời chỉ nguyên nhân. बोध्  bodh là động từ thuộc nhóm 10 và nó có những nghĩa như sau : Thu hút, Phát hiện, Làm cho sống động lại, Kích thích, Làm hưng phấn, Kích động, Thúc đẩy, Cổ vũ, Làm cho thấu hiểu vấn đề, Nhắc lại, gợi lại; làm nhớ đến, Làm cho tỉnh lại, Dạy, giảng dạy, Chỉ đường cho ai, Báo cho biết, cho biết, thông báo, Khuyên, khuyên bảo, khuyên nhủ.



Giác là gì ? Ngộ là gì ? Ngộ và Giác có khác nhau không ? Giác ngộ mang ý nghĩa gì trong Phật học?



Giác, Hán-Việt viết : . Pāli: vedāna. Phạn : vedana, viết theo mẫu devanāgarī :  वेदन. Thuật ngữ vedana có gốc từ chữ veda và thân kép –na. Trong ý nghĩa thường, Vedana được biết như : Sự cảm nhận, Sự hiểu biết, Sự đau đớn. Theo Phật học, Vedana có nghĩa là Thụ hay Thọ (), mà Ðức Phật đã dạy trong Ngũ uẩn (Pañca-skandha).



Thọ uẩn (Vedana-skandha) là cảm giác, do sự tiếp xúc giữa giác quan và đối tượng mà sinh ra thọ. Ðức Phật nói có 6 thọ như sau : Mắt tiếp xúc với hình sắc mà sinh thọ, tai với âm thanh, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với vật cứng-mềm, ý với đối tượng tâm ý. Trong tinh thần Phật học, Cảm giác không dừng lại ở mức độ tiếp xúc đơn thuần mà còn là cảm xúc, một biểu hiện sâu hơn của cảm giác.



Có ba loại cảm giác được biết như sau : Cảm giác khổ, Cảm giác vui sướng, Cảm giác không vui không khổ.

Cảm giác khổ là một loại cảm giác khó chịu khi ta tiếp xúc với một đối tượng không thích ý, nó kèm theo một chuỗi tâm lý khó chịu, bất mãn, tránh xa...



Cảm giác vui sướng là một loại cảm giác dễ chịu, thoải mái, phấn khởi khi ta tiếp xúc với một đối tượng thích ý, nó tạo cho ta niềm vui, sung sướng xích lại gần.



Cảm giác trung tính không khổ không vui, nó không tạo cho ta cảm giác khó chịu hay dễ chịu, nó không tạo ra một lực hút hay lực đẩy nào.



Ðức Phật dạy : "Này các thầy Tỳ kheo, phàm cảm thọ gì quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn". Chấp thủ vào cảm thọ bao giờ cũng sai lầm và gặt hái khổ đau.



Trong kinh Kim Cang có ghi câu Phật dạy : "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai." Nghĩa là những gì có tướng đều hư dối, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức là giả, đó là thấy Phật, vì Phật là Giác.



Trong Kinh Viên Giác, Bồ tát Văn thù có hỏi Phật: "Thế nào là vô minh?" Đức Phật dạy: "Chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm sanh diệt duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là Vô minh." Vô minh với Minh ở gần bên nhau. Cả hai đều từ Tâm Thân mà có. Khi người tu biết thay đổi cái nhìn, hay những cảm giác, từ sai lầm, si mê mà chuyển qua thức tỉnh thì cũng được hiểu như là Giác.



Sau khi giác ngộ thành đạo, Đức Phật Thích Ca có nói câu đầu tiên : "Lạ lùng thay, tất cả mọi chúng sinh đều là Phật, có đủ hết mọi đức hạnh và sự sáng suốt. Nhưng đầu óc bị xáo trộn bởi những tư tưởng sai lầm, cho nên không nhận ra bản chất sáng suốt của chính mình. Tỉnh ngộ và tìm lại bản chất thánh thiện đều có sẳn trong thân tâm của mỗi người. Ta là Phật đã thành các ngươi là Phật sẽ thành."



Đây cũng là ngụ ý mà Đức Phật đã nhìn thấy được khả năng tinh thần phát sinh ứng dụng ý thức lý trí, để đánh thức những năng lực từ vô thức sâu thẳm bên trong của mọi người, qua kinh nghiệm đạt được của chính Ngài.



Học Phật là học cách nhìn và cảm nhận sự vật đúng với con mắt thức tỉnh tức là chấp nhận và sống với cái thật của mình bằng chánh niệm. Thực hành theo bất cứ cách nào cũng sẽ đạt được mục đích đem Tâm đến một trạng thái sáng suốt, quân bình, nhằm giúp cho Thiện pháp sẳncó trong thân tâm của mỗi người đang chờ sự tỉnh thức và quyết tâm của từng cá nhân, để có thể đi đến kết quả thấy biết như thật trong việc thành tựu đoạn trừ ái, thủ.



Đoạn trừ ái, thủ được thành công, không gì khác hơn, là nhờ vào sự vận dụng hữu hiệu trợ giúp quan trọng của Trí tuệ để dập tắt khát ái. Khát ái được đoạn tận thì chấp thủ được đoạn tận, vô minh được đoạn tận.



Trí tuệ là yếu tố quan trọng trực tiếp đưa tới việc Tỉnh thức trong đời tu Phật. Nó không phải là các năng lực thần bí. Sự tu tập không nên chấp vào phương pháp, mà điều chủ  yếu cần nên biết là việc phát triển chánh niệm. Cây sen không cần phải tránh xa bùn để không bị ô nhiễm, bởi vì cấu trúc bẫm sinh tự nhiên của nó đã không thể thấm bùn. Đức Phật được người ta gọi là Toàn giác, bởi vì Ngài giác ngộ bằng sự thực hành, trải nghiệm của chính Ngài.



Ý thức và cảm nhận được mọi sự thay đổi của thân thể, chính là sự khai triển khả năng tỉnh thức thường trực, cũng được hiểu như là Giác. Cái khả năng tỉnh thức thường trực sẵn có mà người lại hay quên, thì đây là một trong những nguyên nhân đầu tiên không thoát ra ngoài được các nhận thấy như thực tự nhiên của sự vật.



Trong ý nghĩa giản dị của chữ Giác là sự tỉnh thức thường trực để giúp con người định hướng rõ ràng hơn trong cách làm việc cũng như cách sống hàng ngày.



Giác trong Phật học có thể hiểu như sự nhận biết được như thực, nhằm nói lên một sự thật, một chân lý tất yếu, để chỉ cho con người có thể nhận biết khả năng thành Phật của mình trong tương lai, mà các đời chư Phật đã làm trong quá khứ của các đời chư Phật.



Thành Phật có nghĩa là đạt đến địa vị tỉnh thức hoàn toàn và giải thoát vô minh trọn vẹn. Đức Phật đã đạt đến, chúng sanh tinh tấn nỗ lực tu hành bằng khả năng thánh thiện của mình, rồi cũng sẽ đạt đến Phật quả, bởi vì chúng sanh sẵn có Phật tánh rồi.



Phật tánh là mầm lương thiện sẳn có trong mỗi người, và cũng là một món thuốc qúy nuôi dưỡng Tâm để nuôi cái sống. Phật tánh không thuộc về riêng ai. Phật tánh không có giai cấp phân biệt và không có sự riêng tư, như Đức Phật đã khai thị trong Kinh Pháp Hoa:



Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. 

Tất cả chúng sinh đều có khả năng giác ngộ tối thượng. 

Tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật.



Trước khi tin chắc vào lời Phật nói. Trước khi tin chắc vào khả năng tỉnh thức của chính mình. Trước khi tin chắn sẽ thành Phật. Là Phật tử hay không phải là Phật tử, nên thử tìm hiểu và kiểm chứng một cách nghiêm túc trong cách tự tu tập riêng của bản thân, để hiểu thêm ý nghĩa về chữ Giác, qua những lời  Ðức Phật đã dạy dưới đây:



1) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.

2) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.

3) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

4) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.

5) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.

6) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.

7) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

8) Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.

9) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.

10) Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.



Biết thân giả, tâm sanh diệt giả, đó cũng là Giác. Thuật ngữ Vedana वेदन  (Giác) có gốc từ chữ veda và thân kép –na.



Bảng biến hóa thân từ của  vedana ở dạng trung tính:



Trung tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách vedanam vedane vedanāni
Hô cách vedana vedane vedanāni
Cách trực bổ vedanam vedane vedanāni
Cách dụng cụ vedanena vedanābhyām vedanaiḥ
Cách gián bổ vedanāya vedanābhyām vedanebhyaḥ
Cách tách ly vedanāt vedanābhyām vedanebhyaḥ
Cách sở hữu vedanasya vedanayoḥ vedanānām
Cách vị trí vedane vedanayoḥ vedaneṣu

 

Bảng biến hóa thân từ của  vedana ở dạng nữ tính:



Nữ tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách vedanā vedane vedanāḥ
Hô cách vedane vedane vedanāḥ
Cách trực bổ vedanām vedane vedanāḥ
Cách dụng cụ vedanayā vedanābhyām vedanābhiḥ
Cách gián bổ vedanāyai vedanābhyām vedanābhyaḥ
Cách tách ly vedanāyāḥ vedanābhyām vedanābhyaḥ
Cách sở hữu vedanāyāḥ vedanayoḥ vedanānām
Cách vị trí vedanāyām vedanayoḥ vedanāsu

 

Thuật ngữ Vedana có gốc từ chữ वेद  veda và Veda có những nghĩa được biết như sau : Sự hiểu biết, Khoa học, Lời nói mầu nhiệm, Sự hiểu biết có tính soi sáng.



Bảng biến hóa thân từ của  veda ở dạng nam tính:



Nam tính

Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách vedaḥ vedau vedāḥ
Hô cách veda vedau vedāḥ
Cách trực bổ vedam vedau vedān
Cách dụng cụ vedena vedābhyām vedaiḥ
Cách gián bổ vedāya vedābhyām vedebhyaḥ
Cách tách ly vedāt vedābhyām vedebhyaḥ
Cách sở hữu vedasya vedayoḥ vedānām
Cách vị trí vede vedayoḥ vedeṣu

 

वेद  Veda có gốc từ chữ वेद्  Ved và वेद्  Ved có gốc từ động từ vid_1, dùng ở thời chỉ nguyên nhân. वेद्  Ved là động từ thuộc nhóm 10 và nó có những nghĩa được biết như sau : Báo cho ai biết một điều gì đó, Thông báo, Làm cho ai hiểu biết cái gì đó, Hướng dẫn, Chỉ bảo, Truyền đạt.



Biết thân này giả. Biết tâm sanh diệt giả trong sự biến hóa vô thường của sự vật, bằng chánh niệm qua quá trình tu tập, là hiểu ra được (Ngộ,  )  cái yếu tính của sự vật như thế là như thế. Hiểu được như vậy thì mới thấy cái chân thật không sanh diệt, đó chính là lúc nhận và sống với cái Tánh giác sẵn có của chính mình. Người nhận thấy và hiểu biết được lý này, thì đã hiểu được đầy đủ tất cả ý nghĩa diệu dụng ý nghĩa của câu hỏi : Giác ngộ là cái gì?. Và khi đã hiểu được Giác ngộ là cái gì rồi, thì không còn những gì nghi vấn nữa trên con đường tu tập, ngày nay chưa được, ngày mai tiếp tục… Cứ rèn luyện như thế, sẽ thấy lý do tại sao Phật tánh mình vốn có sẵn, nếu nhận ra nó thì mình thành Phật, còn nếu mình quên nó thì nó cũng không mất. Có phải là chuyện lạ thường không?



Một thành tựu cần thiết cho quá trình tu tập để đoạn tận khổ đau, cũng đều tùy thuộc vào bản chất của con đường tu tập. Bản chất này bao gồm những yếu tố như sau:



Trạch pháp (dharmapravicaya), phân tích, biết phân biệt đúng sai.

Tinh tiến (vīrya).

Hỉ (prīti), tâm hoan hỉ.

Khinh an (praśabdhi), tâm thức sảng khoái.

Niệm (smṛti), tỉnh giác.

Định (samādhi), có sự tập trung lắng đọng.

Xả (upekṣā), lòng buông xả, không câu chấp.



Con đường tu luyện để đắc đạo đương nhiên rất khó. Vì bắt buộc phải đi ngược dòng thế tục. Người tu Phật được Đức Phật dạy làm sao để biết chính mình thật sự có mặt và sống an lạc chung với tất cả đại chúng, qua sự đã giác ngộ của Ngài, như thế đó, thì sự an lạc đó cũng được gọi là Tathāgata. Do đó Như Lai không từ đâu đến và cũng không đi về đâu cả. Không thuộc về sự mong cầu mang tính cá nhân.



Hiểu được Chân như tức là hiểu được cái nhất thể của khách thể và chủ thể trong thế giới nhị nguyên, và biết phải làm sao để thoát khỏi thế giới bằng đỉnh cao của Trí tuệ. Đây cũng chính là lý do tại sao Chân Như cũng còn được gọi là : "Như Lai Tạng (Tathàgatagarbha), Phật tính, Pháp thân". Như Lai là một hiện tại được nhân cách hóa, nhưng bản chất thực sự của nó nằm ở trong thân tâm của một vị Phật và mỗi người đều có thể hiện được để trở thành Như Lai như Đức Phật Thích Ca.



Ngoài cái tên Bodhi mà người ta đã đặt cho cây Ficus religiosa, từ khi Thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm đạt giác ngộ, đã trở thành một vị Phật. Cây Bồ đề này được gọi là Aśvattha, अश्वत्थ, trong phạn ngữ Assattha theo tiếng Pali. Aśvattha có gốc từ chữ Aśva, अश्व và Stha स्थ.



अश्व Aśva có nghĩa là con ngựa, con ngựa trong bàn cờ vua, Aśvā là thân từ ở dạng nữ tính và nghĩa của nó là con ngựa cái.



Bảng biến hóa thân từ của  aśvattha ở dạng nam tính:



Nam tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách aśvatthaḥ aśvatthau aśvatthāḥ
Hô cách aśvattha aśvatthau aśvatthāḥ
Cách trực bổ aśvattham aśvatthau aśvatthān
Cách dụng cụ aśvatthena aśvatthābhyām aśvatthaiḥ
Cách gián bổ aśvatthāya aśvatthābhyām aśvatthebhyaḥ
Cách tách ly aśvatthāt aśvatthābhyām aśvatthebhyaḥ
Cách sở hữu aśvatthasya aśvatthayoḥ aśvatthānām
Cách vị trí aśvatthe aśvatthayoḥ aśvattheṣu

 

Bảng biến hóa thân từ của  aśvatthāở dạng nữ tính:



Nữ tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách aśvatthā aśvatthe aśvatthāḥ
Hô cách aśvatthe aśvatthe aśvatthāḥ
Cách trực bổ aśvatthām aśvatthe aśvatthāḥ
Cách dụng cụ aśvatthayā aśvatthābhyām aśvatthābhiḥ
Cách gián bổ aśvatthāyai aśvatthābhyām aśvatthābhyaḥ
Cách tách ly aśvatthāyāḥ aśvatthābhyām aśvatthābhyaḥ
Cách sở hữu aśvatthāyāḥ aśvatthayoḥ aśvatthānām
Cách vị trí aśvatthāyām aśvatthayoḥ aśvatthāsu

 

Bảng biến hóa thân từ của  aśva ở dạng nam tính:



Nam tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách aśvaḥ aśvau aśvāḥ
Hô cách aśva aśvau aśvāḥ
Cách trực bổ aśvam aśvau aśvān
Cách dụng cụ aśvena aśvābhyām aśvaiḥ
Cách gián bổ aśvāya aśvābhyām aśvebhyaḥ
Cách tách ly aśvāt aśvābhyām aśvebhyaḥ
Cách sở hữu aśvasya aśvayoḥ aśvānām
Cách vị trí aśve aśvayoḥ aśveṣu

 

Bảng biến hóa thân từ của  aśvattha ở dạng nam tính:







Chủ cách aśvā aśve aśvāḥ
Hô cách aśve aśve aśvāḥ
Cách trực bổ aśvām aśve aśvāḥ
Cách dụng cụ aśvayā aśvābhyām aśvābhiḥ
Cách gián bổ aśvāyai aśvābhyām aśvābhyaḥ
Cách tách ly aśvāyāḥ aśvābhyām aśvābhyaḥ
Cách sở hữu aśvāyāḥ aśvayoḥ aśvānām
Cách vị trí aśvāyām aśvayoḥ aśvāsu


स्थ stha có gốc từ  chữ sthā_1, thân từ thuộc tĩnh từ và có ba dạng : Nam tính, trung tính, nữ tính. Sthā_2 c ó nghĩa được dùng chỉ cho những hành động như sau : Giữ lấy, ở trong, chiếm đóng, làm, thực hành, tạm trú.

Bảng biến hóa thân từ của  stha ở dạng nam tính:



Nam tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách sthaḥ sthau sthāḥ
Hô cách stha sthau sthāḥ
Cách trực bổ stham sthau sthān
Cách dụng cụ sthena sthābhyām sthaiḥ
Cách gián bổ sthāya sthābhyām sthebhyaḥ
Cách tách ly sthāt sthābhyām sthebhyaḥ
Cách sở hữu sthasya sthayoḥ sthānām
Cách vị trí sthe sthayoḥ stheṣu

 

Bảng biến hóa thân từ của  stha ở dạng trung tính:



Trung tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách stham sthe sthāni
Hô cách stha sthe sthāni
Cách trực bổ stham sthe sthāni
Cách dụng cụ sthena sthābhyām sthaiḥ
Cách gián bổ sthāya sthābhyām sthebhyaḥ
Cách tách ly sthāt sthābhyām sthebhyaḥ
Cách sở hữu sthasya sthayoḥ sthānām
Cách vị trí sthe sthayoḥ stheṣu

 

Bảng biến hóa thân từ của  sthā ở dạng nữ tính:



Nữ tính Số ít Số hai Số nhiều
Chủ cách sthā sthe sthāḥ
Hô cách sthe sthe sthāḥ
Cách trực bổ sthām sthe sthāḥ
Cách dụng cụ sthayā sthābhyām sthābhiḥ
Cách gián bổ sthāyai sthābhyām sthābhyaḥ
Cách tách ly sthāyāḥ sthābhyām sthābhyaḥ
Cách sở hữu sthāyāḥ sthayoḥ sthānām
Cách vị trí sthāyām sthayoḥ sthāsu

 

Động từ căn √ स्था sthā_1, là động từ thuộc nhóm 1 và nó có những nghĩa như sau : Tự đứng thẳng, tự bất động, ở, cư ngụ, nhấn mạnh, kéo dài, tự dừng lại, chờ đợi, hiện diện, có mặt ở nơi nào đó, tự dựa vào, tự lo liệu, tự hiến dâng, thực hành, sống thẳng đứng, thiết lập, đặt tên, đặt để, ngừng lại.  

पिप्पल pippala cũng là từ đồng nghĩa với Aśvattha, अश्वत्थ.



Tóm lại



Ngộ () là một thuật ngữ của phái thiền tông, được dùng để chỉ sự nhận thức, trực nhận, thấu hiểu xuyên suốt, không có sự phân biệt giữa người nhận thức và vật được nhận thức. Chữ Ngộ thường dùng để chỉ cái kinh nghiệm thức tỉnh ngay tức thì của nó.



Giác ( ) là một thuật ngữ  dùng chỉ sự tỉnh thức, bằng sự cảm nhận và hiểu biết thường trực. Tiếng Phạn gọi là Vedana, viết theo mẫu devanāgarī : वेदन. Theo Phật học, Vedana có nghĩa là Thụ hay Thọ (), mà Ðức Phật đã dạy trong Ngũ uẩn (Pañca-skandha).



Giác thường đi với Ngộ thành Giác Ngộ. Phạn ngữ  gọi là bodhi, viết theo mẫu devanāgarī : बोधि . Bodhi có gốc từ chữ bodh và nó có những nghĩa được biết như sau : Khoa học, Thông minh, Sự hiểu biết am tường, Sự tiết lộ, Sự phát hiện, Điều phát hiện, Sự chiếu sáng, Sự soi sáng, Thiên khải, Sự giải thoát khỏi mối phiền não, Sự giác ngộ của một vị Phật.



Bodhi phiên âm theo Hán Việt là Bồ đề. Bồ đề dùng để chỉ trạng thái cho người tu chứng được bốn cấp Thánh đạo (Phạn ngữ. āryamārga) bằng cách hành trì 37 Bồ đề phần và Tứ diệu đế.



Người giác ngộ hoàn toàn trong lịch sử là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là người sáng lập ra đạo Phật hay đạo giác ngộ. Giác ngộ ( 覺悟 ) là thuật ngữ dùng để chỉ sự hiểu biết được cái nhất thể của khách thể và chủ thể trong thế giới nhị nguyên, và biết phải làm sao để thoát khỏi thế giới này bằng đỉnh cao của Trí tuệ.



Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được sinh ra như một con ngừơi, sống như một con người và kết thúc cuộc đời như một con người, nhưng lại là con người có toàn năng, toàn trí, toàn giác.



Ngài luôn luôn sống trong trí tuệ thấy biết mọi sự vật hiện tượng đúng như thật, do Ngài đã trải qua quá trình tu tập chuyển hóa thân tâm, loại bỏ phiền não tham, sân, si chiến thắng được những dục vọng của tự thân, đưa đến phát minh trí tuệ và chứng ngộ chân lý.



Ngài có nói: " Chiến thắng vạn quân binh không bằng tự thắng mình, tự thắng mình mới là một chiến công oanh liệt. "



Từ kinh nghiệm bản thân, đức Phật thấy con người có khả năng thành đạt trí tuệ, chứng ngộ chân lý và là chủ nhân của chính mình, hoàn toàn không phụ thuộc vào ân huệ của một quyền năng siêu nhiên nào bên ngoài. Chính nơi con người tiềm ẩn một năng lực phát triển vô hạn, đó là nguồn sống bao la của vũ trụ, sở dĩ chưa trực nhận và khai triển được vì còn bị vô minh che khuất.



Vào thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện tại Ấn Độ. Các đạo sĩ  thường bàn luận về câu hỏi: Thế nào là một vị Phật?  Ai là người giác ngộ?  Một hôm, có một vị đạo sĩ già, tên Brahmayu, nghe tin có Ngài ẩn sĩ Cồ Đàm là một vị Phật, vừa du hành đến thị trấn của ông ta, nên ông quyết định đến thăm Ngài (Trích Trung Bộ, kinh 91).



Vị đạo sĩ  Brahmayu  nói : " Kính thưa Ngài Cồ Đàm, tôi có vài thắc mắc muốn hỏi Ngài ".



Đức Phật mời ông nêu ra những thắc mắc trong lòng.

Vị đạo sĩ nêu ra các câu hỏi qua một bài kệ bốn câu, đại ý chính là :

Làm thế nào để được gọi là Phật,  một Bậc Giác ngộ?

Đức Phật trả lời qua bốn câu kệ như sau:

" Những gì cần biết rõ, Ta đã biết rõ.

 Những gì cần từ bỏ, Ta đã từ bỏ.

Những gì cần tu tập. Ta đã tu tập.

Do vậy, này Vị đạo sĩ, Ta là Phật ".



Nếu ngày nào đó có người nào hỏi: " Bạn quy y Tam bảo chính yếu là để làm gì?  Bạn giữ giới để làm gì?  Bạn hành thiền để làm gì? "  thì câu trả lời của Đức Phật ở trên sẽ giúp bạn là : " Để biết rõ những gì cần hiểu rõ. Để loại bỏ những gì cần phải bỏ. Để tập tu những gì cần tu tập ".




TS.Huệ Dân


Bình luận (1)

Ban biên tập nên để phông chữ khác dễ đọc hơn, để chữ đậm rất khó đọc, cảm ơn BBT rất nhiều.
Dân Ta ( 16/07/2011 14:27:25)

Viết bình luận mới

Tên bạn
Email
Nội dung
 
  • Ngắm vẻ đẹp lộng lẫy của ngôi chùa dát vàng nổi tiếng Ngắm vẻ đẹp lộng lẫy của ngôi chùa dát vàng nổi tiếng
  • Bộ hình ảnh Thập nhị Dược Xoa Thần tướng (Thích Minh Hoàng) Bộ hình ảnh Thập nhị Dược Xoa Thần tướng (Thích Minh Hoàng)
  • Chùm ảnh "Hoa Hồng xuống phố" - TP.HCM và Hà Nội Chùm ảnh "Hoa Hồng xuống phố" - TP.HCM và Hà Nội
  • Chùm ảnh: Tranh thư pháp mùa Vu Lan 2012 (Minh Hoàng) Chùm ảnh: Tranh thư pháp mùa Vu Lan 2012 (Minh Hoàng)
  • Chùm ảnh: Nghệ An tràn ngập sắc màu Phật giáo Chùm ảnh: Nghệ An tràn ngập sắc màu Phật giáo
  • Đưa quá khứ bước ra từ những pho tượng giả cổ Đưa quá khứ bước ra từ những pho tượng giả cổ
  • Lược sử Ðức Phật Thích Ca từ thành đạo đến nhập niết bàn (HT.Thiện Hoa) Lược sử Ðức Phật Thích Ca từ thành đạo đến nhập niết bàn (HT.Thiện Hoa)
  • Đa dạng, hân hoan Phật đản tại Hàn Quốc Đa dạng, hân hoan Phật đản tại Hàn Quốc
  • Người giữ hồn “Quốc hoa Tây Hồ” Người giữ hồn “Quốc hoa Tây Hồ”
  • Chùm ảnh: Hoa "Đức Phật" rực sáng đường phố Hà Nội Chùm ảnh: Hoa "Đức Phật" rực sáng đường phố Hà Nội

Đánh giá của bạn về giao diện website: tongiaovadantoc.com

Rất tiện lợi và chuyên nghiệp
Giao diện đẹp dễ dùng
Tôi có một góp ý cho TG&DT
Cũng bình thường