đậu tương đen hữu cơ

Chấn hưng Phật giáo

13:14 29/04/2011

Bài 2: Canh tân Phật giáo (Minh Mẫn)

(TG&DT) - Canh Tân là vấn đề luôn được cân nhắc cho mọi tổ chức, mọi sinh hoạt và mọi ngành nghề trong cuộc sống. Bởi vì mọi vật luôn biến thiên theo thời gian và không gian.

  NGUYÊN NHÂN RẮC RỐI


 

Cuộc chiến VN trước 1975 đạt đến đỉnh điểm quyết định. Mặc dù chính quyền miền Bắc lúc bấy giờ hao binh tổn tướng khá nhiêù qua những chiến đoạn mùa Hè Đỏ Lửa, Mậu Thân, Lam Sơn Hạ Lào, nhưng dốc toàn lực khi thấy rằng chính quyền Mỹ lúng túng trước sách lược VN và ý định giải trừ chiến tranh lạnh với Liên Xô, Trung Quốc.


 

Một số thành phần trí thức và tu sĩ Kito giáo cũng thấy được mối đe dọa từ miền Bắc, linh mục Trần Hữu Thanh, Nguyễn Ngọc Lan, Đinh Bình Định.. đứng ra hô hào chống tham nhũng, thanh lọc và củng cố miền Nam, tổ chức nhiều lực lượng chính trị, trong đó lực lượng người Nùng của linh mục Hoàng Quỳnh, cơ sở  tại giáo xứ An Bình, mong cưú vãn chế độ; ngược lại linh mục Phan Khắc Từ, Ngô Công Đức, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… lại hoạt động những phong trào dưới chiêu bài  xã hội làm nhộn nhịp thêm trong tình thế nhiều hoảng loạn; ví dụ phong trào Cứu Đói, thật tế miền Nam bấy giờ có ai đói đâu; Cải thiện chế độ Lao Tù…làm căng thẳng tinh thần quần chúng,  giữa lúc chiến tranh gia tăng khốc liệt.



Hằng ngày tin binh sĩ tử thương, thất trận dồn dập trên các trang nhật báo; Sinh viên, học sinh, các sư xuống đường liên miên. Lực lượng PG đấu tranh, có ni sư Huỳnh Liên, không trực thuộc cuộc đấu tranh của PG Ấn Quang, mà liên kết với bà Ngô Bá Thành của Mặt Trận; Tình hình chính trị miền Nam bấy giờ như quả bóng đang căng; Nguyễn văn Thiệu càng ngày càng lâm vào bế tắc, thế nhưng ông ta vẫn cố bám vào ngôi vị Tổng Thống đến khi Mỹ  cắt viện trợ hoàn toàn, tinh thần binh sĩ miền Nam xáo trộn, không còn cưú vãn, và bị áp lực nhiều phía, ông ta mới chấp nhận ra đi.

 


 PG  Ấn Quang bấy giờ tiến thoái lưỡng nan; cuộc đấu tranh ngày càng lún sâu vào chính trị; chính phủ miền Nam từ thập niên 1966 - 1974, muốn xoa dịu PG, nhường một số ghế trong chính quyền. Trần Quang Thuận làm bộ trưởng Bộ Xã Hội. Vũ Văn Mẫu và liên danh Hoa Sen có các ông Nguyễn Duy Tài, Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, vào quốc Hội, nhưng tất cả cũng chỉ phụ thuộc vào nhân sự đầu tàu Kito giáo, như chủ tịch Thượng Hạ nghị viện đều là người của GH Kito đưa ra,  tỉnh trưởng, quận trưởng cũng là tín đồ Kitô giáo, các cấp chính quyền đều bị các linh mục, các thành phần dư đảng Cần Lao chi phối; Thậm chí nhân sự đại diện PG trong các cấp chính quyền cũng tùy hứng hoạt động mà không theo chủ trương của GH Ấn Quang, hay nói cách khác, GHPG lúc bấy giờ, ngoài việc chống đối , không có một kế sách, một  chiến lược rõ ràng, không đào tạo nhân sự thực thi chính sách của GH khi tham chính, vì thế, những nhân sự được GH đưa vào chính quyền, lại là người thụ hưởng cá nhân, hoặc công bộc chế độ chứ không đóng góp gì cho PG đáng kể. Lúc bấy giờ PG Ấn Quang vừa đối đầu vừa hợp tác, có nghĩa đối đầu để có một vị trí trong chính quyền chứ không phải chống đối vì cuộc chiến nồi da xáo thịt. Đã đi lệch mục đích ban đầu.


 

Tăng sĩ trẻ không thể tách rời hoạt động của GH ẠQ, vì vậy bị lệnh Tổng động viên, phải nhập ngũ, chỉ có tu sĩ thuộc GHPGVNTN của Việt Nam Quốc Tự mới được cấp giấy hoãn dịch; Chư ni trẻ ở Dược sư, Huê Lâm, Từ Nghiêm.. buộc phải tham gia biểu tình, không còn thời gian tu học. Một số vị rút khỏi GHTN để thành lập GH mới, cũng không khá hơn trong việc giáo dục, đào tạo tu sĩ, bị  không khí chính trị nóng bỏng chi phối; so với tu sĩ các dòng của Kito giáo, PG bấy giờ chông chênh, khó tìm một vị thế an trụ. Nếu GH bên Việt Nam Quốc Tự hay bất cứ GH tông môn nào đủ bản lãnh thiên hướng chuyên tu cho tăng chúng, hoặc đào tạo đồ chúng theo thiền môn quy củ của chư Tổ, chắc chắn PGVN không bị trống chân như căn nhà bị nước ngầm xâm thực.


 

Nếu những bậc cao tăng lúc bấy giờ như HT Trí Tịnh, HT Thanh Từ, HT Thiền Tâm, HT Thiện Hòa, HT Bửu Huệ…can đảm khởi xướng phong trào chuyên tu, chắc chắn không ít tu sĩ hưởng ứng khi quá mỏi mệt vì đấu tranh, và như thế, tuy không chính thức làm cuộc canh tân, nhưng thật sự đã canh tân PG trong một trong một xu thế bị kiêu binh tồn đọng sau hào quang thành tựu 1963 của GHPGVNTN Ấn Quang; Riêng GH Việt Nam Quốc Tự, HT Tâm Châu cũng không có lực lượng tăng sĩ hậu thuẩn như Ấn Quang, chỉ một số ít người Bắc di cư và chính quyền bấy giờ ủng hộ, thay vì tách rời Ấn Quang, Ngài có thể thành lập đạo tràng hay một viện chuyên tu để ổn định tăng sĩ, HT Tâm Châu lại an phận chức Viện trưởng VHĐ một cách hữu danh vô thực, để rồi danh tiếng một thời bị mai một trong cuộc sống vô vị!


 

Khi cuộc chiến kết thúc vào 30/4/1975, PG một số tỉnh thành tham gia tiếp đón bộ đội, một số hòa vào dòng người chạy nạn vô Sài Gòn hoặc vượt biên; Ban Đại diện PG các nơi chờ đợi sự điều động, chỉ thị hoặc hướng dẫn của GH Trung Ương, nhưng tại Ấn Quang, sau khi HT Trí Quang đề nghị TT Dương Văn Minh đầu hàng để tránh đổ máu nhân dân và binh sĩ hai bên một cách vô ích; các HT, TT lãnh đạo GH Trung Ương, mỗi vị  suy tư một cách khác nhau, nhưng một cách giống nhau là đứng trước tình hình mới, GH không biết ứng xử thế nào, chờ thái độ của chính phủ Lâm Thời Cọng Hòa Miền Nam VN đối xử với tôn giáo ra sao; Nghĩa là GH chỉ có thái độ đấu tranh trong lúc chiến tranh, không có một kế sách cho thời hậu chiến, hay ít ra chuẩn bị tư thế trong buổi giao thời; có người bảo rằng GHTN chỉ thành lập để đấu tranh chứ không phải phát triển PG, đào tạo tu sĩ và hướng dẫn quần chúng tu tập, vì thế không giữ được tầm vóc và sắc thái liên  tục của một tôn giáo trong mọi tình huống, như Kitô giáo!



Một số tín đồ người Bắcdi cư đã  đến các Ngài mong tìm được một sự trấn an, chính các Ngài cũng không an, HT Tâm Châu, HT Huyền Vi, HT Giác Đức, HT Mãn Giác đã ra di, vài tháng sau đó, HT Hộ Giác, HT Tắc Phước, HT Huyền Tôn, TT Thiện Nghị, TT Chơn Điền,… đều tìm cách ra nước ngoài, không thiếu tu sĩ bỏ mình nơi biển cả, trong đó có TT Viên Đức, tu Mật Tông ở Thủ Thiêm; không thể bảo vì lý do kinh tế, cũng không thể nói tỵ nạn chính trị, vì các Ngài không can hệ đến chính trị, một lý do duy nhất là vì an ninh cuộc sống, một số chùa bị trưng thu, một số tu sĩ bị bắt, hầu hết đều nằm trong vòng kềm tỏa khắc nghiệt của chính sách Quân qu